TÂM VÔ LẬU – MỤC ĐÍCH TU CHỨNG ĐẠO LÀ TÂM VÔ LẬU
Chúng ta hãy lắng nghe các vị đại đệ tử của Phật, mỗi người đều có một kinh nghiệm tu tập khác nhau, không ai tu tập giống ai, nhưng kết quả tâm đều Vô Lậu. Vô Lậu là mục đích mà mọi người tu tập đều phải đạt được, như vậy mới gọi là giải thoát. Ông A Nan trình bày sự tu tập của mình theo đặc tướng như sau:
“Ở đây, này Hiền giả Sariputta, tỳ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.
Ông A Nan đã trình bày sự hiểu biết tu hành của mình bằng cách nghe nhiều, do ông làm thị giả Phật: Khi nghe Phật thuyết giảng là ông ghi nhận trong tâm từng lời nói, từng ý nghĩa, từng hành động tu tập từ thấp đến cao, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Do sự tu tập như vậy, sẽ làm sáng chói khu rừng Gosinga. Theo trình bày của ông A Nan, thì sự tu hành rất căn bản: NGHE, HIỂU, RỒI THỰC HÀNH. Khi ông A Nan trình xong sự tu tập của mình, thì ông Xá Lợi Phất hỏi Tôn giả Revata:
“Này Hiền giả Revata, Tôn giả Ananda đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata: Này Hiền giả Revata, khả ái thay ngôi rừng Gosinga… (như trên)… Này Hiền giả Revata, hạng tỳ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”.
Tôn giả Revata trình bày chỗ tu tập của mình là GIỮ GÌN TÂM THANH TỊNH BẤT ĐỘNG trong bất cứ giờ nào, ngày nào, chỗ nào cũng ở trong trạng thái KHÔNG TỊCH, thì sẽ làm sáng chói khu rừng Gosinga. Đó là kinh nghiệm tu hành của tôi, xin trình bày cho các tôn giả đang có mặt trong ngôi nhà mát được nghe:
“Ở đây, này Hiền giả Sariputta, tỳ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp tịnh chỉ, không gián đoạn tâm thanh tịnh (thiền định), thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.
Khi nghe xong sự trình bày tu tập của Tôn giả Revata, thì Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi Tôn giả A Na Luật, còn ông tu tập như thế nào?
“Này Hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Anuruddha: Này Hiền giả Anuruddha, khả ái thay ngôi rừng Gosinga… (như trên)… Này Hiền giả Anuruddha, hạng tỳ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”.
Tôn Giả A Na Luật trả lời qua kinh nghiệm tu hành của mình:
“Ở đây, này Hiền giả Sariputta, tỳ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sariputta, tỳ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.
Ngài A Na Luật trước khi gặp Phật pháp là người bị mù đôi mắt, nhưng khi gặp chánh pháp của Phật, Ngài nỗ lực tu tập giữ tâm thanh tịnh bất động, và chứng đạt Tâm Bất Động, nên mỗi khi muốn nhìn thấy Ngài đều dùng Thiên nhãn của mình để thấy mọi vật, chớ không còn là đôi mắt thường của chúng ta nữa. Cho nên Ngài trình bày chỉ có người tu tập có cái nhìn thanh tịnh, không bị nhiễm ô các dục, không bị dao động bởi các ác pháp, cái nhìn được như vậy thì sẽ làm sáng chói khu rừng Gosinga.
Khi nghe Tôn giả A Na Luật trình bài xong, thì Tôn giả Xá Lợi Phật hỏi Tôn giả Đại Ca Diếp, còn tôn giả tu tập như thế nào?
“Này Hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Kassapa: Này Hiền giả Kassapa, khả ái thay ngôi rừng Gosinga… (như trên)… Này Hiền giả Kassapa, hạng tỳ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”.
Nghe hỏi như vậy, Tôn giả Đại Ca Diếp trình bày sự tu tập của mình:
“Ở đây, này Hiền giả Sariputta, tỳ-kheo tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi; tự mình sống khất thực và tán thán đời sống khất thực; tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo; tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y; tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ; tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư; tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục; tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạnh tinh cần, tinh tấn; tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh; tự mình thành tựu thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định; tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ; tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát; tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.
Ngài Đại Ca Diếp trình bày sự tu tập của mình qua các hạnh buông xả của một người xuất gia, ly gia cắt ái, sống không gia đình không nhà cửa, chỉ còn ba y một bát đi xin ăn hằng ngày, ai cho sao cũng ăn được, không chê cũng không khen.
Tự mình thích sống trong rừng núi thanh vắng; tự mình thích sống đi khất thực; tự mình thích mặc y áo thô xấu; tự mình thích sống ba y một bát, không thích nhiều đồ; tự mình thích sống thiểu dục tri túc; tự mình thích sống độc cư, không thích nói chuyện với bất một người nào; tự mình thích sống không đắm nhiễm thế tục; tự mình thích sống siêng năng; tự mình thích sống giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh; tự mình thích sống tinh tấn giữ gìn tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ; tự mình thích sống với tri kiến giải thoát. Sống như ngài Đại Ca Diếp như vậy là đã giải thoát chứng đạo rồi, còn gì mà không làm sáng chói khu rừng Gosinga.
Khi ngài Đại Ca Diếp trình bày xong, thì ngài Xá Lợi Phất hỏi Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, còn kinh nghiệm tu hành của Ngài như thế nào?
“Hiền giả Moggallana, Tôn giả Mahakassapa đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahamoggallana: Này Hiền giả Moggallana, khả ái thay khu rừng Gosinga!… (như trên)… Này Hiền giả Moggallana, hạng tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”.
Khi nghe Tôn giả Xá Lợi Phật hỏi như vậy, thì Tôn giả Đại Mục Kiền Liên trả lời như sau:
“Ở đây, này Hiền giả Sariputta, hai tỳ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại (không trả lời được), và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục. Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.
Tôn giả Mục Kiền Liên là người đệ nhất thần thông trong các hàng đệ tử của Phật, sao ông không đem ra pháp tu hành nào mà có được thần thông đó? Ở đây, ông lại đem bộ luận A Tỳ Đàm ra luận bàn, thì chúng tôi tin rằng đây không phải là ông Mục Kiền Liên trả lời, mà là người sau thêm vào để hạ bệ các hàng đệ tử của Phật. Luận A Tỳ Đàm là một bộ sách lý luận, chớ đâu phải là những hành động tu tập thanh tịnh làm sáng chói khu rừng Gosinga.
Ở đây, chúng ta không được ngài Mục Kiền Liên trình bày sự tu tập như thế nào để trở thành một người đệ tử đệ nhất thần thông của Phật, nhưng chúng ta cũng biết, thần thông đệ nhất đều xuất phát từ tâm BẤT ĐỘNG. Dù muốn dù không, thì ngài Mục Kiền Liên phải sống trong tâm BẤT ĐỘNG suốt trong bảy ngày đêm thì mới gọi là đệ nhất thần thông.
Khi Tôn giả Đại Mục Kiền Liên trả lời xong, liền hỏi lại Tôn giả Xá Lợi Phất, còn Ngài tu hành như thế nào?
“Hiền giả Sariputta, chúng tôi đã trả lời theo sự giải thích của chúng tôi. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Sariputta: Này Hiền giả Sariputta, khả ái thay khu rừng Gosinga! Đêm rằm sáng trăng, cây Ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Sariputta, hạng tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”.
Nghe hỏi như vậy, tôn giả Xá Lợi Phật trình bày sự tu tập của mình để huynh đệ cùng nghe:
“Ở đây, này Hiền giả Moggallana, tỳ-kheo điều phục được tâm, không phải tỳ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallana, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua, có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallana, tỳ-kheo điều phục được tâm, không phải tỳ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào tỳ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào tỳ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị tỳ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallana, hạng tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.
Sự trình bày tu tập của ông Xá Lợi Phất nhiếp tâm và an trú tâm, muốn hồi nào đều làm được hồi nấy:
1- Tỳ kheo điều phục được tâm, không phải tỳ kheo không điều phục được tâm.
2- An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều.
Khi trình bày sự tu tập cho mọi người nghe xong, thì Tôn giả Xá Lợi Phật đề nghị các tôn giả nên đem đến hỏi Phật qua kinh nghiệm tu hành của mình đúng, sai, để đức Phật chỉnh sửa lại. Lời đề nghị quá hợp lý, nên mọi tôn giả đều rủ nhau đến chỗ Phật để thưa hỏi cho cặn kẽ. Nhất là mọi vị đều thuật lại những công phu tu hành của mình cho đức Phật nghe.
Sau khi nghe xong các tôn giả trình bày, đức Phật chỉ trả lời ngắn gọn, mà không phê bình một tôn giả nào tu tập sai pháp cả, có nghĩa là đức Phật chấp nhận các tôn giả đều tu tập đúng, nhưng có điều là các ông không khéo trả lời, chỉ thẳng tâm BẤT ĐỘNG.
Đạo Phật tu hành rất đơn giản, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có cầu kỳ như các tôn giả trình bày pháp tu tập.
Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật trả lời pháp môn tu hành một cách đơn giản:
“Này Sariputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các ông hãy nghe Ta nói, hạng tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sariputta, tỳ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết già này, cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”. Này Sariputta, hạng tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.
Lời dạy của đức Phật tu hành rất đơn giản: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết già này, cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”.
Quý vị có nghe lời dạy này không? Tu hành chỉ cần ngồi kiết già, hay bán già, rồi khéo tác ý để giữ tâm giải thoát các lậu hoặc, và không để tâm dính mắc chỗ nào cả, tức là không chấp thủ. Tu tập có như vậy, mà quý vị sao bị chấp thủ quá nhiều, nào là tâm hết vọng tưởng; nào là tâm thanh tịnh; nào là khinh an hỷ lạc; nào là hơi thở nhẹ nhàng; nào là vui mừng hết cỡ; nào là xúc động rơi nước mắt; nào là kiến tánh thành Phật; nào là niệm Phật nhất tâm; nào là biết vọng liền buông; nào là tham công án, tham thoại đầu, v.v… Tất cả những tâm niệm này là TÂM CHẤP THỦ.
Tu tập ở đây đức Phật dạy rất đơn giản, chỉ ngồi kiết già lưng thẳng, rồi giữ tâm không lậu hoặc và không để tâm dính mắc một cái gì khác. Xin quý vị lưu ý: GIỮ TÂM KHÔNG LẬU HOẶC không có nghĩa là giữ tâm không vọng niệm, mà GIỮ TÂM KHÔNG GIẬN HỜN, THƯƠNG, GHÉT, LO BUỒN, SỢ HÃI, v.v… Ở đây có nghĩa là TÂM THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Đức Phật xác định pháp môn tu tập thật đơn giản, còn các vị đệ tử trình bày pháp môn tu tập quá khó khăn và rất phức tạp.
Theo: 37 Phẩm trợ đạo (Trưởng lão Thích Thông lạc)

THE STAINLESS MIND (ANĀSAVA) – THE GOAL OF ENLIGHTENMENT IS A STAINLESS MIND
Let us listen to the great disciples of the Buddha; each had a different experience in cultivation, yet the result for all was a Stainless Mind. A Stainless Mind is the goal that every practitioner must achieve; only then can it be called liberation. Venerable Ānanda presented his cultivation based on his specific characteristics as follows:
“Here, friend Sāriputta, a bhikkhu is one who has heard much, who retains what he has heard, and stores up what he has heard. Those teachings that are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing, which affirm a holy life that is utterly perfect and pure—such teachings he has much heard, retained, recited aloud, mentally examined, and well penetrated with vision. He teaches the Dhamma to the four assemblies with well-rounded and fluent phrases for the purpose of uprooting all underlying tendencies. Friend Sāriputta, such a bhikkhu could illumine the Gosinga wood.”
Venerable Ānanda presented his understanding of cultivation through “much hearing” (erudition), as he was the Buddha’s attendant: whenever he heard the Buddha preach, he recorded in his mind every word, every meaning, and every action of cultivation from low to high—good in the beginning, middle, and end. Through such cultivation, he would illumine the Gosinga wood. According to Ānanda’s presentation, the practice is very fundamental: HEARING, UNDERSTANDING, AND THEN PRACTICING. After Ānanda finished, Venerable Sāriputta asked Venerable Revata:
“Friend Revata, the Venerable Ānanda has answered according to his own explanation. Now, we ask the Venerable Revata: Friend Revata, delightful is the Gosinga wood… what kind of bhikkhu could illumine the Gosinga wood?”
Venerable Revata presented his practice as MAINTAINING A PURE AND UNSHAKEABLE MIND at any hour, any day, and any place, remaining in a state of EMPTINESS AND SILENCE (Khổng Tịch). That was his experience:
“Here, friend Sāriputta, a bhikkhu delights in solitary life, finds joy in solitary life, practices internal tranquillity of the mind without interruption (meditative absorption), possesses clear vision, and frequently visits empty and silent places. Friend Sāriputta, such a bhikkhu could illumine the Gosinga wood.”
Next, Venerable Sāriputta asked Venerable Anuruddha about his practice. Venerable Anuruddha replied through his experience:
“Here, friend Sāriputta, a bhikkhu, with the purified divine eye, surpassing that of humans, surveys a thousand worlds. Just as a man with good sight, standing on the top of a high tower, might survey a thousand circular paths below, so too a bhikkhu surveys a thousand worlds. Friend Sāriputta, such a bhikkhu could illumine the Gosinga wood.”
Venerable Anuruddha was blind before encountering the Dhamma, but through diligent effort in maintaining an unshakeable mind, he attained the Unshakeable Mind. Whenever he wished to see, he used his “Divine Eye” rather than ordinary eyes. Thus, he presented that one who has a pure vision, unstained by desires and unshaken by unwholesome states, can illumine the Gosinga wood.
Venerable Sāriputta then asked Venerable Mahākassapa. Venerable Mahākassapa presented his practice through the ascetic virtues of a renunciant:
“Here, friend Sāriputta, a bhikkhu is himself a forest-dweller and speaks in praise of forest-dwelling; he is an alms-food eater and speaks in praise of alms-gathering; he wears rag-robes and speaks in praise of wearing rag-robes; he lives with only three robes and speaks in praise of the triple-robe; he is few in wishes, content, secluded, aloof from society, energetic, accomplished in virtue, concentration, wisdom, liberation, and the knowledge and vision of liberation, and speaks in praise of each. Friend Sāriputta, such a bhikkhu could illumine the Gosinga wood.”
Venerable Sāriputta then turned to Venerable Mahāmoggallāna. Mahāmoggallāna answered:
“Here, friend Sāriputta, two bhikkhus engage in a talk on the Abhidhamma. They ask each other questions, and when asked, they answer one another without faltering, and their discussion on the Dhamma proceeds. Friend Sāriputta, such a bhikkhu could illumine the Gosinga wood.”
Venerable Moggallāna was foremost in supernatural powers (Siddhi) among the Buddha’s disciples, yet why did he not mention the practice that led to those powers? Instead, he mentioned discussing the Abhidhamma. We believe this was not Moggallāna’s actual answer, but an addition by later generations to undermine the Buddha’s disciples. The Abhidhamma is a book of philosophical logic, not the actions of pure cultivation that illumine the Gosinga wood.
Although we do not see Moggallāna’s specific practice for supernatural powers here, we know that such powers originate from the UNSHAKEABLE MIND. Whether one likes it or not, Moggallāna had to live in that Unshakeable Mind for seven days and nights to be foremost in supernatural powers.
Finally, Mahāmoggallāna asked Venerable Sāriputta about his own practice. Sāriputta replied:
“Here, friend Moggallāna, a bhikkhu has mastery over his mind; he is not under the mastery of his mind. Whatever attainment (fruit) he wishes to abide in during the morning, he abides in it in the morning; likewise for the afternoon and evening. Just as a king or a royal minister has a chest full of robes of different colors, and whichever pair he wishes to wear in the morning, he wears it—similarly, a bhikkhu has mastery over his mind. Such a bhikkhu could illumine the Gosinga wood.”
Sāriputta’s presentation focused on the absolute mastery and dwelling of the mind:
- The bhikkhu masters the mind; he is not mastered by it.
- He can dwell in any spiritual fruit at any time of day he desires.
After hearing each other’s experiences, Sāriputta suggested they ask the Buddha to confirm their practices. The Buddha listened and replied concisely, without criticizing any disciple. He accepted that they were all practicing correctly, but noted they had not simply and directly pointed to the UNSHAKEABLE MIND.
Buddhist practice is actually very simple, not as difficult, tiring, or elaborate as the disciples’ presentations might suggest. Let us listen to the Buddha’s simple answer:
“Sāriputta, all have answered well in their own way. But hear from me, what kind of bhikkhu illumines the Gosinga wood? Here, Sāriputta, a bhikkhu, after his meal, having returned from alms-round, sits down cross-legged, keeps his back erect, establishes mindfulness in front of him, and resolves: ‘I will not break this cross-legged position until my mind is liberated from the taints (outflows) through non-attachment.’ Sāriputta, such a bhikkhu illumines the Gosinga wood.”
The Buddha’s teaching is profoundly simple: Sit, resolve to keep the mind free from taints, and do not cling. Yet, many practitioners fall into “attachment”—clinging to the idea of ending wandering thoughts, clinging to purity, to bliss, to smooth breathing, or to specific meditation methods like Koans or Buddha-name recitation. All these are ATTACHMENTS OF THE MIND.
The Buddha taught: sit with a straight back and keep the mind free from taints without being entangled in anything else. Please note: KEEPING THE MIND FREE FROM TAINTS (Stainless) does not mean just stopping thoughts; it means KEEPING THE MIND FREE FROM ANGER, LOVE, HATE, WORRY, SORROW, AND FEAR. It means a mind that is SERENE, BLISSFUL, AND AT EASE. The Buddha confirmed the practice is simple, while the disciples made it seem complex and difficult.
💡 Thuật ngữ chính (Key Terms)
- Tâm Vô Lậu: Stainless Mind / Mind free from taints (outflows) / Anāsava.
- Đặc tướng: Specific characteristics / Natural traits.
- Sơ thiện, trung thiện, hậu thiện: Good in the beginning, middle, and end.
- Tùy miên: Underlying tendencies / Latent tendencies (Anusaya).
- Tịnh chỉ: Internal tranquillity / Samatha.
- Không tịch: Emptiness and silence / Seclusion.
- Thiên nhãn: Divine eye / Dibba-cakkhu.
- Y phấn tảo: Rag-robes / Pamsukula.
- Thiểu dục tri túc: Fewness of wishes and contentment.
- Độc cư: Solitary living / Seclusion.
- Lậu hoặc: Taints / Outflows / Asavas.
- Chấp thủ: Clinging / Attachment / Upādāna.
